Sông Côn Mùa Lũ - Tập 1
Sông Côn Mùa Lũ - Tập 1 bao gồm 101 chương, mở đầu vào năm 1765 khi hai anh em Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ theo học giáo Hiến - một nhà nho vừa trốn nạn Trương Phúc Loan chuyên quyền, từ Phú Xuân lánh vào quê vợ tại An Thái, Quy Nhơn. Tác phẩm kết thúc vào năm 1792 khi Nguyễn Huệ - lúc này đã lên ngôi vua với niên hiệu Quang Trung - qua đời, và An, con gái giáo Hiến kiêm người yêu thời niên thiếu của Nguyễn Huệ, ra Phú Xuân dự đám tang. Thông qua hơn 1000 trang sách, tác giả Nguyễn Mộng Giác không chỉ đơn thuần miêu tả cuộc khởi nghĩa Tây Sơn cùng những chiến công của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ, mà còn mượn câu chuyện thăng trầm, tan hợp đầy sóng gió của gia đình ông giáo Hiến cùng ba anh em Tây Sơn nhằm tái hiện lịch sử dân tộc trong suốt gần ba thập kỷ cuối thế kỷ 18.
Là người con sinh ra trên mảnh đất võ Bình Định - nơi khởi nguồn và dựng nên nghiệp lớn của ba anh em nhà Tây Sơn - đồng thời có nhiều năm sinh sống tại Huế, kinh đô Phú Xuân xưa, sự am tường cùng tình yêu sâu sắc đối với quê hương, đất nước đã giúp trang văn của Nguyễn Mộng Giác đậm đặc hơi thở lịch sử. Hơn 1000 trang sách với lớp lang chương hồi mạch lạc có sự góp mặt của hàng trăm nhân vật sống động, chính xác đến từng chi tiết. Trong số đó, nhiều nhân vật lịch sử đã đi vào sử sách và được đông đảo bạn đọc biết đến như anh em nhà Tây Sơn, Nguyễn Hữu Chỉnh, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp, Ngô Thì Nhậm, Ngô Văn Sở, Phan Huy Ích... Họ hiện lên một cách dung dị, trung thực và đời thường qua ngòi bút khách quan cùng cái nhìn công bằng, khoa học của tác giả. Tác phẩm bảo đảm tính chân thật lịch sử nhờ việc trích dẫn hoặc mượn hơn 40 đầu sách tham khảo cùng nhiều văn bản quan trọng như Hoàng Lê nhất thống chí, La Sơn phu tử của Hoàng Xuân Hãn, Tuyển tập thơ văn Ngô Thì Nhậm, và các sách nghiên cứu về Nguyễn Huệ. Thậm chí những chi tiết nhỏ như mức thu thuế, cách bắt lính, từng bờ lau bãi sậy ở Phú Xuân, Gia Định hay nếp nhà đất tại kinh kì Thăng Long, Phố Hiến đều được Nguyễn Mộng Giác căn cứ vào tư liệu lịch sử, thể hiện tinh thần làm việc nghiêm cẩn và công phu. Nhờ vậy, một bức tranh xã hội Việt Nam với rất nhiều kiếp người và số phận, từ người lao động nghèo, mẹ góa con côi cho đến toàn bộ bộ mặt quan lại phong kiến, đều hiện lên vô cùng sống động, mang lại cho người đọc cảm giác thích thú khi được đắm chìm vào bầu không khí của một thời đại nhiều biến động cách đây cả trăm năm.
Trong Sông Côn Mùa Lũ, tình yêu cũng hình thành nên một mạch chảy âm thầm mà bất diệt. Người đọc sẽ cảm thấy thú vị khi nhận ra mặt rất đời thường của người anh hùng đánh Nam dẹp Bắc, mang trong lòng hoài bão lớn lao và đập tan bộ máy quyền lực hàng trăm năm của vua Lê, chúa Trịnh, nhưng cả cuộc đời lại mãi hoài niệm về mối tình đầy nuối tiếc, không trọn vẹn với người con gái tên An. Nguyễn Mộng Giác đặt Quang Trung - Nguyễn Huệ vào một cuộc tình nhiều day dứt để khám phá vị anh hùng này ở khía cạnh đời thường, qua đó thấy được ông là con người nặng ơn nghĩa nhưng cũng mang nhiều giới hạn thường tình. Ông lựa chọn lịch sử, nhưng ngay trong dòng chảy lịch sử vĩ đại ấy, một con người kiệt xuất như Nguyễn Huệ cũng chỉ là chất gây men cho cuộc vận chuyển thời cuộc khổng lồ, là con cá bơi khỏe giữa dòng lũ, được lịch sử trao cho vận hội trong tay. Đó chính là góc nhìn đặc biệt mà bạn đọc sẽ khám phá được qua tác phẩm.
Điểm đặc biệt của tác phẩm nằm ở việc Nguyễn Mộng Giác không chỉ tập trung tái hiện hình tượng anh hùng của Nguyễn Huệ - Quang Trung, hiện thân cho thời đại bão táp nông dân khởi nghĩa, mà còn rất dụng công khi miêu tả số phận cay đắng, bọt bèo của nhân dân trước những thăng trầm lịch sử, đặc biệt là nỗi đa đoan của những người phụ nữ trong cơn binh lửa. Tác giả đồng thời triển khai song song mạch chủ đề về tầng lớp trí thức, nho sĩ lạc lõng giữa thời cuộc với vô số câu hỏi được đặt ra: đâu là bản tính, bản chính, đâu là thân phận, sứ mệnh, thế nào là trung quân và ái quốc. Chính những nội dung giàu chất thế sự ấy đã tạo nên âm ba mạnh mẽ trong lòng người đọc.
Trong lần tái bản này, Nhà xuất bản đã bố cục lại 101 chương truyện thành ba tập lớn dựa theo các sự kiện nổi bật:
Tập 1 (từ chương 1 đến hết chương 32): Bắt đầu từ năm 1765, sau khi Trương Phúc Loan giết quan Nội hữu Trương Văn Hạnh, ông giáo Hiến đưa gia đình gồm Kiên, Chinh, Lãng, An, bé Út cùng bà giáo trốn khỏi Phú Xuân về An Thái - quê vợ của giáo Hiến. Tại đây, ông giáo gặp Biện Nhạc (Nguyễn Nhạc) và được nhờ cậy dạy dỗ hai anh em Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ. Nguyễn Huệ từ nhỏ đã bộc lộ tư chất thông minh cùng cái nhìn sâu sắc. Khi tình hình An Thái rối ren và quan lại lộng hành, giáo Hiến cùng gia đình chuyển lên Tây Sơn Thượng, trở thành quân sư cho Nguyễn Nhạc và tham gia cố vấn đường lối chính trị cho quân Tây Sơn. Tuy nhiên, giải pháp phò tá Hoàng tôn Dương của ông giáo không mang lại hiệu quả như Tây Sơn mong muốn, khiến Nhạc chọn phương án hợp tác với chúa Trịnh, dẫn đến việc giáo Hiến bị thất sủng và dần dần bị cô lập.
Tập 2 (từ chương 33 đến hết chương 62): Nguyễn Huệ thể hiện tài thao lược và khả năng dụng binh qua chiến thắng đầu tiên tại Phú Yên. An, con gái ông giáo, được Nguyễn Nhạc làm mối cho Lợi, qua đó chấm dứt mối tình chưa thành hình giữa An và Huệ. Vị thế của ông giáo ngày càng lung lay và gia đình bị dời về Bằng Châu, nơi ông sống những năm cuối đời trong tình trạng tâm thần không tỉnh táo cho đến khi qua đời. Nguyễn Nhạc xưng vương với niên hiệu Thái Đức, xây dựng Hoàng đế thành, bắt đầu giai đoạn vừa củng cố quyền lực vừa ổn định đời sống nhân dân. Trong vai trò mới là Long Nhương tướng quân, Nguyễn Huệ cầm quân đánh thắng quân Xiêm xâm lăng tại trận Rạch Gầm, Xoài Mút, và cuối cùng giành thắng lợi vẻ vang khi chiếm thành Phú Xuân, làm lung lay bộ máy mục ruỗng của nhà chúa Trịnh.
Tập 3 (từ chương 63 đến hết): Nghe theo lời khuyên của Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Huệ thừa thắng kéo quân tiến ra Thăng Long dưới ngọn cờ Phò Lê diệt Trịnh. Thăng Long sụp đổ dưới sức tiến công của quân Tây Sơn. Trịnh Khải thiệt mạng, vua Lê Hiển Tôn gả Công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ rồi băng hạ, nhường ngôi cho Lê Chiêu Thống. Vua Thái Đức ra Thăng Long khuyên Nguyễn Huệ trở về và giao thành Phú Xuân cho ông cai quản. Mang theo tham vọng, chí lớn thâu tóm và thống nhất giang sơn một mối, không chấp nhận sự an phận hay tầm nhìn hẹp của vua Thái Đức, Nguyễn Huệ đã tấn công vào Gia Định, khiến mối quan hệ giữa ba anh em nhà Tây Sơn rạn nứt. Nguyễn Huệ xưng vương với hiệu Quang Trung vào năm 1788 tại Phú Xuân, tiếp tục tiến công ra Thăng Long và giành chiến thắng Mậu Thân vang dội, đánh đuổi hơn 20 vạn quân Thanh. Giữa lúc thế nước còn non trẻ, Nguyễn Ánh quay lại tấn công Gia Định thì vua Quang Trung đột ngột băng hạ, để lại tham vọng thống nhất giang sơn bờ cõi còn dang dở.
Ở lần xuất bản này, với mong muốn mang lại cho Sông Côn Mùa Lũ một hình thức mới mẻ hơn, chúng tôi đã bổ sung một số hình ảnh minh họa công phu, sắc nét nhằm tái hiện những chi tiết nổi bật và giàu tính nghệ thuật trong trang văn của Nguyễn Mộng Giác.
Về tác giả:
NGUYỄN MỘNG GIÁC
(1940 - 2012)
Ông sinh năm 1940 tại thôn Xuân Hòa, xã Bình Phú, quận Bình Khê (nay là huyện Tây Sơn), tỉnh Bình Định, và qua đời năm 2012 tại Mỹ.
Ông tốt nghiệp thủ khoa Trường Đại học Sư phạm Huế năm 1963 và được điều về giảng dạy tại Trường Nữ trung học Đồng Khánh ở Huế ngay trong năm đó.
Về sự nghiệp văn chương, ông bắt đầu viết văn từ năm 1971 và từng cộng tác với các tạp chí: Bách Khoa, Văn, Thời Tập, Ý Thức.
Bộ trường thiên tiểu thuyết Sông Côn Mùa Lũ được ông bắt đầu sưu tầm tài liệu và viết từ năm 1977, hoàn thành vào năm 1981.
Một số trích đoạn hay:
Đoạn trích 1: Quyết định nào có vấy máu, không ai vui sướng cả! Nhưng có những lúc, những việc mà nếu nấn ná một khắc, tai họa khó mà lường được. Gia đình tôi đã trải qua những lúc sinh tử chỉ cách một sợi tóc, nên tôi không muốn nấn ná, do dự.
- Lời của Nguyễn Nhạc -
Đoạn trích 2: Chỗ đứng của ta ở đâu? Ở dưới trướng bọn Trương Tần Cối mà ta chán ghét khinh bỉ ư? Ở giữa những người chân đất áo vải mà ta lạc lõng xa lạ ư? Có con đường nào khác không?
- Suy nghĩ của ông giáo -
Đoạn trích 3:
Rõ ràng dân chúng chưa tin chúng ta. Không phải lỗi của họ. Ta đốt quách sổ thuế xí xóa nợ nần cho họ, họ không mừng. Chia của cải, họ không dám nhận, hoặc nhận xong hôm sau lại đem trả cho nhà giàu. Vì sao vậy? Vì họ nghĩ ta không khác bao nhiêu với bọn cướp đêm lẫn bọn cướp ngày. Ta cũng dùng giáo mác cung tên lùa họ ra sân đình, ngọn đuốc hờm sẵn để châm vào nhà họ. Nhiều người xấu trong chúng ta cũng giở thói cướp bóc, sàm sỡ với phụ nữ y như bọn ôn dịch dưới phủ. Chắc chắn dân chúng nghĩ thế này: “Tưởng gì! Cá mè một lứa mà thôi. Bọn cướp ngày trước kia uy thế vững bền mấy trăm năm, còn bọn cướp này sức được bao nả. Phải dè dặt thận trọng, không thì về sau lại khổ”. Cho nên, khi nào chúng ta còn cư xử như những tên du thủ du thực, khi nào trong đội ngũ còn những tên cướp bó, hiếu sát, lúc đó dân chúng còn thận trọng, xa lánh với ta. Họ chưa tin, vì quả thực chính chúng ta có gì cho họ tin.
- Trích lời Huệ nói -
Đoạn trích 4:
Tôi đã lầm khi nghĩ phải mạnh tay để thu phục lòng người. Chúng ta gặp thất bại còn nhiều hơn trước, dân chúng sợ ta mà không phục ta, lánh xa vì không tin lời ta nói. Những việc họ vui mừng như được khỏi nộp thuế, được chia của cải, được tận mắt chứng kiến bọn hào lí thất thế tiu nghỉu v.v... càng ngày càng bớt tác dụng đi. Ngược lại, họ giấu sổ thuế, chôn của cải, liều chết bảo vệ làng còn mạnh mẽ hơn trước. Rõ ràng chúng ta, trước hết là tôi, đã lầm lẫn. Đã đến lúc phải nghĩ lại, tìm giải pháp đúng. Chúng ta phải làm gì đây?
- Trích lời Nhạc nói -
Đừng biến dân chúng thành kẻ thù của ta. Như có một lần tôi hỏi anh Huệ: Sức ta bao nhiêu mà đòi chống với tất cả dân chúng hai phủ? Phải làm gì ư? Theo ý tôi, phải làm thế nào để giảm bớt đến mức tối thiểu số kẻ thù của ta. Có càng ít kẻ thù bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu! Như thế cũng có nghĩa là càng liên kết được nhiều bạn bè bao nhiêu, ta càng mạnh bấy nhiêu. Bạn bè ta nhiều, kẻ thù sẽ bị cô lập.
- Trích lời ông giáo -
Họ quần nhau ba ngày không phân thắng bại, đến chiều ngày thứ ba Tập Đình và Lý Tài ở cánh phải đánh thốc vào hông quân triều, khiến quân triều hoảng loạn tan rã. Tổng nhung Sùng và Tán lý Quang tử trận. Quân Tây Sơn lại thừa thắng đánh chiếm phủ Quảng Ngãi. Quân triều phải rút về giữ dinh Chàm. Tinh thần quan quân sa sút đến nỗi chỉ cần một tin đồn là cả dinh đã xao xác dợm chạy về Hội An để kiếm đường tháo thân. Triều đình Phú Xuân cuống cuồng cả lên. Nội bộ lục đục đổ lỗi cho nhau. Kẻ hèn nhát thì láo liên tìm đường trốn trách nhiệm. Bọn thất phu rụt cổ như gà gặp cáo. Bọn xu nịnh tìm cách hãm hại những kẻ dám nói thẳng để diệt cả họa gần.
Đoạn trích 5:
“Thôi, thế cũng xong. Từ lâu ta lo lắng mà không bao giờ dám nhìn thật thẳng vào thực tại. Ta chạy quanh, mắt nhắm như một đứa trẻ rúc đầu vào mặt gối để trốn sợ hãi. Tại sao sự thực sờ sờ ra đó mà ta còn dại dột nuôi hi vọng? Thôi, thế cũng xong! Hết: Hết cả rồi! Hết những lo lắng ưu phiền, hết những mơ ước vụng dại! Hết những vật vã nghi ngờ, khắc khoải thương nhớ! Hết ôm ấp kỉ niệm như những của báu để tự làm khổ mình như một tên trọc phú keo kiệt! Hết trăn trở thâu đêm, vì những lời thì thầm mình nói cho mình nghe, tưởng tượng có thể nhờ gió mang tận đến đỉnh đèo xa hút!”
- An nghĩ -
Đoạn trích 6:
Liên tiếp mấy hôm sau ngày hạ thành Phú Xuân (20 tháng Năm Âm Lịch), phố xá không lúc nào ngớt người. Thiên hạ chen chúc nhau đi xem cảnh tượng mới: những đoạn thành bị sập, những cây cháy sém, gươm giáo gẫy, những vết máu khô bắt đầu bị đất đỏ lấp phải chú ý lắm mới nhận ra, quần áo quân Trịnh vất tứ tung hòng cải trang thoát thân, và hấp dẫn nhất là những xác chết chưa kịp đem chôn. Từng tụm trẻ con và đàn ông hiếu kì bao quanh các xác chết sình căng phủ đầy vôi trắng, trong khi mùi thối tanh gắt tỏa ra dưới ánh nắng chói chang. Đường phố lúc nào cũng tỏa bụi mù mịt. Gần như mọi người đều lên cơn say. Không thể ngồi yên ở nhà, họ chạy ra đường, đi lên đi xuống, nhìn ngắm không biết bao nhiêu lần tàn tích đổ nát chết chóc. Mạch máu đập mạnh hơn, trí não căng thẳng, chân tay bứt rứt. Gần như sau mười năm bị đè nén dưới ách cai trị khắc nghiệt, không dám nói những điều muốn nói, không dám nhìn thẳng vào cuộc sống, ấp úng dáo dác để bảo toàn tấm thân, giờ đây thiên hạ vùng vẫy cho thỏa thích để tận hưởng khoái lạc của tự do và tự tin. Bầu trời tháng Năm cao xanh, đất dưới chân bước vững chãi, hết thảy mọi người gặp trên đường đi đều là bè bạn.
Tự do! Tự do! Món quà bất ngờ thật to lớn, quý giá quá, đến nỗi dân Thuận Hóa đã sờ mó được nó vẫn còn ngờ vực, tưởng mình còn say hoặc vẫn chưa ra khỏi giấc chiêm bao. Cho nên cảnh tượng mới không đậu lại trong trí nhớ, mà cứ lan man phơn phớt. Mọi người đi lại, nhìn ngắm bấy nhiêu cảnh, gặp bấy nhiêu người, nhưng không thấy thỏa mãn. Mỗi lần nhìn lại là một lần đổi mới. Cuộc tìm kiếm vội vã cái gì chưa biết rõ, sự tận hưởng cảm giác khinh khoái mơ hồ, được hít thở không khí khét nắng và đượm mùi tử khí, cảm giác lưng lửng ở dạ dày, say dại ở trí não, tất cả bao nhiêu thứ lộn xộn ấy, lạ lùng thay, hòa hợp tạo thành hạnh phúc trước vận hội mới.
Đoạn trích 7:
Kẻ cầm cương nếu vì nhút nhát, sợ hãi bụi đường thiên lí dùng hết sức ghìm cương lại tất sẽ bị quật ngã. Và sau đó, con ngựa khỏe cứ rong ruổi đường xa! Không! Không! Ông không thể dừng lại, làm một quan Trấn thủ thu mình tận hưởng tuổi đời trong cái thành cũ ven con sông Hương trầm lặng này! Nước sông xanh lặng lờ, núi không đủ cao để đùa giỡn với những đám mây! Những cơn mưa chì chiết lê thê! Làm quan trấn thủ Thuận Hóa? Ông mới ba mươi lăm tuổi mà đã chồn chân sớm thế sao? Ông sẽ thay thế cho Quận Tạo, ngồi vào chỗ hắn ngồi, tay đặt vào thành ghế gấm còn vương mùi mồ hôi chua của hắn, chân bước lên những viên gạch hắn đã bước, mắt nhìn mái ngói hắn đã nhìn? Rồi sau đó? Bốn mươi tuổi? Năm mươi tuổi? Ông sẽ béo phệ như hắn, mắt híp như hắn, mấy ngón tay xanh xao nung núc như hắn? Và đến lúc nào thì cũng sẽ như hắn, ông cúi đầu lầm lũi bước theo sau xe quan tài và lá cờ bạc, vào một ngày mưa dầm ảm đạm?
- Nguyễn Huệ -
Đoạn trích 8:
Các ông thấy không, muốn gỡ rối ở Gia Định lẫn Bắc Hà chỉ còn một cách là làm sao cho dân hiểu rõ rằng mệnh trời đã đổi. Rằng bọn ruồi nhặng từng rước quân Xiêm về dày xéo Gia Định lẫn bọn con cháu họ Trịnh họ Lê ở Bắc Hà đều là những thân cây mục, không còn dùng làm gì được nữa. Ta biết thuyết phục cho được điều đó, không phải dễ. Phía Nam, ta còn vướng Hoàng đế thành. Phía Bắc, các ngài khoa bảng thuộc làu kinh truyện còn ôm khư khư lấy chữ “trung quân” (...) Cái gì mục nát tất nhiên phải gãy đổ. Có chút gió thổi thì đổ nhanh hơn. Thế thôi. Chẳng lẽ các ngài cứ khư khư bám lấy những điều lỗi thời, thậm chí còn chết dại như bọn Lý Trần Quán, Nguyễn Huy Trạc. Phải có người thức giấc chứ!
- Nguyễn Huệ -
Đoạn trích 9:
Ông không thể không cảm thấy ngợp trước thành công, ngợp trước sức mạnh vừa tìm thấy, như một người lần đầu cưỡi một con ngựa khỏe và dữ. Ông đang ngồi ngay tại trung tâm của quyền lực, đang hít thở không khí của một nền văn minh ổn cố lâu dài, nơi mà một hòn sỏi trên lối đi, một gốc liễu trong vườn thượng uyển cũng có một gia phả. Ông phải làm gì đây? Họ Trịnh đã bị lật đổ khỏi phủ chúa. Hoàng triều vẫn còn ngo ngoe sự sống, qua hình ảnh một vị vua già yếu suốt bao nhiêu năm lấy nhịn nhục làm khôn. Bao nhiêu ngày rồi Thăng Long êm ả, trật tự, nhưng ông biết lắm, đấy là sự êm ả trật tự đẻ ra từ sợ hãi. Gần như chưa có một guồng máy cai trị mới thay cho guồng máy của chúa Trịnh. Chế độ vũ trị không thể kéo dài. Quyền hành sau này sẽ thuộc về ai? Giao vận mệnh xứ sở xa lạ này (cái xứ sở ông mới làm quen có hai tháng ngắn ngủi) cho sự đau yếu bạc nhược, hay cho sự sợ hãi? Vả lại anh ông ở Quy Nhơn đang nghĩ gì khi được tin ông đã đem đại quân vượt quá Lũy Thầy?
- Nguyễn Huệ -
Thông tin chi tiết
Mã sản phẩm | 978632050482 |
Tên nhà cung cấp | Phụ Nữ |
Tác giả | Nguyễn Mộng Giác |
NXB | Phụ Nữ Việt Nam |
Năm XB | 2026 |
Ngôn ngữ | Tiếng Việt |
Trọng lượng (gr) | 900 |
Kích thước (cm) | 23.5 x 15.5 x 3.4 cm |
Số trang | 680 |
Hình thức | Bìa Mềm |









