1900-6656

Thứ 2 - Thứ 6: 8h - 17h

Chuyện Địa Danh Và Chữ Nghĩa Nam Bộ (Tái bản năm 2020)

99,000 đ
Mô tả ngắn:
Chuyện Địa Danh Và Chữ Nghĩa Nam Bộ Ấn phẩm Chuyện Địa Danh Và Chữ Nghĩa Nam Bộ được in đợt này gồm hai phần: Phần Chuyện địa danh mới được in; phần Chuyện chữ nghĩa đã được Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh phát hành vào quý III/ 2014, nay được in lại với Chuyện...
PNO Đặt Câu Hỏi
978604685519
Hết hàng

Chuyện Địa Danh Và Chữ Nghĩa Nam Bộ

Ấn phẩm Chuyện Địa Danh Và Chữ Nghĩa Nam Bộ được in đợt này gồm hai phần: Phần Chuyện địa danh mới được in; phần Chuyện chữ nghĩa đã được Nhà xuất bản Văn hóa - Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh phát hành vào quý III/ 2014, nay được in lại với Chuyện địa danh nên có sửa chữa và bổ sung thêm một số mục từ. Tất cả những mục từ của hai phần được viết trong khuôn khổ lượng từ được ấn định khoảng 400 chữ dưới dạng một câu hỏi và một phần trả lời, được đăng định kỳ hằng tuần ở một số báo tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.

Các mục từ này có thể gặp trong Từ điển Từ ngữ Nam bộ đã được xuất bản bởi Nhà xuất bản Khoa học xã hội (2007) và Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật (2009) (lần in sau có sửa chữa, bổ sung mục từ với dung lượng thêm khoảng 100 trang). Tuy vậy, các mục từ trong Từ điển thường được chú ý giải thích ngắn ngọn, vừa đủ những thông tin cơ bản để hiểu mục từ, mà không mở rộng nội dung thông tin như ở các mục chuyện trong tập sách này.

Về phần Chuyện chữ nghĩa, các mục từ được chọn thường ít được sử dụng trong giao tiếp hiện nay, như: “ăn đầu thảo, ăn công ký, ăn ngan, ăn ong, dặm hú, đường thét, giầm đốc, quá mùa hò, thằng xà bát…”; hoặc nghĩa của các mục từ gắn liền với những sự kiện, con người trong lịch sử mà muốn hiểu chúng phải có sự dẫn giải thêm, như: “Bạch công tử, Hắc công tử, bá hộ, thiên hộ, dân ngũ Quảng, dân hai huyện, giấy bộ lư, lưu linh miễn tử, xổ nho, xài giấy năm trăm…”; hay những từ ngữ có những nét nghĩa cổ và nét nghĩa địa phương có thể tạo nên sự hiểu nhầm, ngộ nhận, như: “ngựa trớ đường, thị thiềng, thị quá, ghe đục, loạn cào cào, phân đồng, phần thủ, phần do…”. Tất cả không thể đủ như một quyển từ điển, nhưng với phần Chuyện chữ nghĩađược giới thiệu ở đây giúp người đọc hình dung được một số nét đặc thù về tự nhiên, xã hội, con người vùng đồng bằng Nam bộ.

Từ phương diện tự nhiên, đây là vùng đồng bằng ruộng vườn gắn với địa hình kênh rạch, sông nước và phương tiện đi lại xuồng, ghe… Từ phương diện xã hội, đây là vùng đất mới có khả năng thu hút những cư dân phương xa đến lập làng, định cư, khai phá, làm ăn. Từ phương diện con người, đa phần là nông dân kinh qua thực tiễn lao động, ít có điều kiện tiếp xúc tri thức sách vở nên chuộng nếp sinh hoạt bình dị, với tính cách bình dân và lời ăn tiếng nói mộc mạc. Bức tranh quê ngày ấy gợi trong chúng ta một vẻ đẹp hiền hòa!

Về phần Chuyện địa danh, biết rằng tìm hiểu địa danh là con đường ngắn để tiếp cận lịch sử. Nhưng ngày nay, để hiểu địa danh mà người xưa đặt, gọi tên là điều không dễ. Không phải người trước có tư duy rắc rối; trái lại, họ có phần đơn giản trong gọi tên, định danh vùng đất. Nói cách khác, con đường hình thành địa danh của từ ngữ có nguyên do rõ ràng và đôi khi rất đơn giản. Nhưng yếu tố thời gian là nhân tố chính tạo nên những chuyện rắc rối này. Bởi do thời gian, dấu vết của nguyên cớ dần bị xóa bỏ. Thế nên, việc lý giải địa danh không dễ dàng với chúng ta hôm nay. Tuy nhiên, để việc lý giải địa danh có được cơ sở khách quan, đòi hỏi phải chú ý tới yếu tố từ ngữ trong phương ngữ và nên xem xét chúng trong tính hệ thống để tránh sự giải thích tùy tiện, chủ quan. Mặt khác, chú trọng vào thực tại của địa danh, sẽ giúp việc lý giải có thêm được tính chất thực tế hơn.

Nguyên tắc là vậy. Nhưng đi vào thực tiễn từng mục từ, lý giải chuyện gọi tên không hề đơn giản. Vẫn còn tranh luận tên gọi và những lý giải khác biệt về “Chằm Chim” hay “Tràm Chim”?; “Nhà Bàn” hay “Nhà Bàng”... Có những trường hợp đơn giản như Sơn Nam giải thích hai địa danh “Ông Ra” và “Ông Rầy” là những nơi mà cọp (được gọi kiêng dè là “ông”) hay “ra” và “quấy rầy” để cảnh báo dân chúng lưu ý khi đi lại nơi này; từ đó, qua thời gian hình thành địa danh “Ông Ra”, “Ông Rầy”; mà hai địa danh này dễ nhầm lẫn và được xếp lạc vào nhóm địa danh “ông + tên”. Hay như tên gọi “Cần Thơ, Cần Đước, Cần Giờ, Cần Giuộc…” vẫn là địa danh phổ biến, nhưng lý giải nghĩa của địa danh “Cần Thơ” cũng chưa có một hướng giải thích thuyết phục. Khuynh hướng phổ biến thừa nhận, chúng là nhóm địa danh có nguồn gốc từ tiếng Khmer, nhưng vấn đề quan trọng là lý giải sao để “nhóm từ Khmer” có chung thành tố “Cần” có được nghĩa mang tính hệ thống. Tiếng Khmer hiện không phải là tử ngữ, như tiếng Latin; bởi người Khmer vẫn còn đang dùng tiếng Khmer, nhưng bản thân họ cũng không lý giải được những địa danh có thành tố “cần” được cho là có nguồn gốc từ tiếng Khmer nữa thì sao nói là có nguồn gốc từ tiếng Khmer?!

Đúng như Sơn Nam, khi nhận xét về công việc làm từ điển của chúng tôi khi trước, nhà văn có nói: “Chữ nghĩa quả thật là gánh nặng dành cho thế hệ trẻ”. Điều đó quá đúng với trường hợp chúng ta phải giải nghĩa từ ngữ của người xưa và nhất là đi vào việc giải thích địa danh.

Kích thước:
14.5 x 20.5 cm
Số trang:
355
Tác giả:
  • Huỳnh Công Tín
Nhà Xuất Bản:
  • NXB Văn Hóa - Văn Nghệ

Không tìm thấy bài viết

Viết bình luận

Sách Phương Nam Ưu Đãi

Cùng Thể Loại